Hình ngôi chùa Tú Phong tại Bắc Kinh nơi có tấm bia ghi bài văn bia do Hồ Nguyên Trừng soạn. Tự hỏi: nếu bia này ở VN thì liệu đến nay nó có...
Hình ngôi chùa Tú Phong tại Bắc Kinh nơi có tấm bia ghi bài văn bia do Hồ Nguyên Trừng soạn. Tự hỏi: nếu bia này ở VN thì liệu đến nay nó có còn không nhỉ? Hình này và hình dưới lấy ở đây:http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/lofiversion/index.php/t15177.html"Nam ông mộng lục", cuốn sách ghi chép lại những điều còn lại trong trí nhớ xa xưa, giống như trong cõi mộng, của một ông già nước Nam.
Là ai thế? Đó là Hồ Nguyên Trừng, con trai đầu tiên của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương, hai vị vua nhà Hồ, một triều đại hết sức ngắn ngủi trong lịch sử VN. Tôi vẫn nhớ khi học lớp 7, lớp 8 gì đó ở trường Gia Long, cô giáo dạy Sử của tôi đã nói một câu mà tôi mãi không quên: "Nhà Hồ thực ra có nhiều cải cách quan trọng, nhưng vì không được dân chúng ủng hộ, nên đã không thành công."
Vì sao mà cải cách quan trọng nhưng dân chúng lại không ủng hộ? Cô giáo tôi hồi ấy nói như sau, đại khái là: người Việt xưa nay vẫn có truyền thống tôn sùng những người đánh giặc ngoại xâm, giữ nước, nhưng không chú trọng việc xây dựng đất nước. Nên những đóng góp của nhà Hồ không được đánh giá đúng mức.
Tại sao mà hôm nay tôi lại quan tâm đến vấn đề lịch sử xa xưa ấy? Đó cũng là câu hỏi mà Khuê Vũ mới đưa ra khi thấy tôi bắt đầu entry này. Câu trả lời thật đơn giản: Vì hôm nay trên báo Thanh Niên có đăng bài "Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly", có nhắc đến Hồ Nguyên Trừng với tài đúc súng, khi bị nhà Minh bắt thì ông không những không bị giết mà còn được trọng dụng. Hình như ông làm đến tận chức Thượng thư = bộ trưởng, sống suốt cuộc đời còn lại sau khi nhà Hồ mất và sau đó qua đời ở bên Tàu. Hiện nay, nơi có ngôi mộ của ông nay đang sắp bị lấy để làm nơi đua ngựa, hình như thế.
Ai muốn biết nhiều hơn về Hồ Nguyên Trừng nói riêng và nhà Hồ nói chung, chỉ cần google, sẽ có hết (riêng độ chính xác của các thông tin thì còn phải bàn thêm). Còn tại sao mà tự nhiên vào lúc này báo Thanh Niên lại quan tâm đến nhà Hồ, thì tôi cũng không biết nốt, ai biết xin bảo cho tôi với nhé.
Tôi không phải sử gia, nên entry này tôi viết chỉ vì tôi quan tâm đến lịch sử như bất kỳ một người bình thường nào - thậm chí chỉ như một bà nội trợ - cũng có thể quan tâm: Số phận của những con người qua những biến cố lịch sử của đất nước. Và cảm thấy ngậm ngùi, vì hình như lịch sử Việt Nam luôn cho thấy mình người tài không hề hiếm, nhưng dường như chưa được sử dụng một cách tốt nhất để giúp đất nước phát triển, cũng như có được một cuộc sống tốt đẹp cho chính mình.
Trong khi đó, thì những nhân tài Việt lại hoàn toàn có thể phát triển tốt ở những nơi khác ngoài đất mẹ, mặc dù cõi lòng vẫn chẳng bao giờ nguôi ngoai niềm thương nhớ quê hương. Như Nam ông Hồ Nguyên Trừng mà tôi đang nhắc đến.
Xin chép lại đây lời dẫn vào cuốn sách "Nam ông mộng lục" của Hồ Nguyên Trừng. Mấy chỗ in nghiêng đậm là do tôi thêm vào để nhấn mạnh. Và cũng ngắt đoạn ra làm 3 để dễ đọc hơn.
Bài tựa Nam Ông mộng lục do chính ông viết như sau:Chỉ đọc lời dẫn thôi, cũng đủ tưởng tượng ra một ông già đau đáu niềm thương nhớ quê nhà, cặm cụi ngồi ghi chép những kỷ niệm - như những mộng tưởng - về quê hương cũ. Ai muốn đọc thêm về Nam ông mộng lục xem Hồ Nguyên Trừng đã viết gì, xin vào đây. Và chắc là còn nhiều nguồn khác nữa, nếu chịu khó tìm.
Bản dịch:
Sách Luận ngữ từng nói: “Trong cái xóm mười nhà, thế nào cũng có người trung tín như Khâu này vậy”, huống hồ nhân vật cõi Nam Giao từ xưa đã đông đúc, lẽ nào vì nơi hẻo lánh mà vội cho là không có nhân tài! Trong lời nói, việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn binh lửa, sách vở cháy sạch, thành ra những điều đó đều bị mất mát cả, không còn được ai nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao?
Nghĩ tới điểm này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong trăm phần chỉ còn được một hai; bèn góp lại thành một tập sách đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới! Một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử, tuy đóng khung trong vòng truyện vặt, nhưng cũng là để góp vui những lúc vui chuyện.
Có kẻ hỏi tôi rằng: “Những người ông chép đều là người thiện, vậy thì trong các truyện bình sinh ông nghe thấy, lại chẳng có chuyện nào bất thiện ư?” Tôi trả lời họ rằng: “Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được, còn chuyện bất thiện thì không phải không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thôi”. Họ lại hỏi: “Sách lấy tên là mộng, ý nghĩa ở chỗ nào?” Tôi trả lời: “Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay việc đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải mộng là gì? Các bậc đại nhân quân tử có thấu cho chăng? Còn hai tiếng Nam Ông thì chính là tên chữ, của Trừng tôi vậy”.
Còn với tôi, thì câu hỏi mà tôi muốn đặt ra cho mình và cho mọi người là: Liệu có ai biết còn bao nhiêu Nam ông mộng lục khác mà chúng ta chưa biết, những Nam ông mộng lục đã được viết ra và sẽ còn được viết ra? Và tôi lại chợt nhớ đến Ngô Bảo Châu, cùng một nỗi băn khoăn: Liệu Ngô Bảo Châu có nên về nước theo lời kêu gọi của nhà nước, để trở thành một Lê Bá Khánh Trình? Hay tốt hơn, nên làm một Hồ Nguyên Trừng, cống hiến sức lực và tài năng của mình ở xứ người, để cuối đời sẽ viết một Nam ông mộng lục khác?
Mà còn những người trở về, như Lê Bá Khánh Trình và nhiều người khác nữa, trong đó có cả tôi, về rồi thì họ ra sao, và sẽ viết gì nhỉ? À, tôi biết rồi: họ viết blog!
COMMENTS