Tôi nhận được mail của một người quen không biết mặt trong thế giới ảo, nhưng đối với tôi là khá thân thiết vì có thể xem là bạn thơ của nha...
Tôi nhận được mail của một người quen không biết mặt trong thế giới ảo, nhưng đối với tôi là khá thân thiết vì có thể xem là bạn thơ của nhau.
Mail ấy được gửi sau khi tôi post bài thơ Ngữ pháp của tình yêu lên. Người bạn thơ của tôi gửi cho tôi một bài thơ khác cũng rất hay, thơ tiếng Anh của nhà thơ Mỹ thời chiến tranh VN. Tựa là "Speaking: The Hero".
Bài ấy, trong mail nói là chép từ trang blog của VTN, và có kèm bản dịch sang tiếng Việt mà VTN nói là do Xuân Diệu dịch. Chẳng biết đúng sai, nhưng ông bạn thơ của tôi có nói một câu, chẳng biết thật, đùa, hay là ... khích, rằng, tôi thử dịch lại, chắc sẽ "hay hơn ông kia" (tức là ông ... Xuân Diệu, cha mẹ ơi!).
Thôi thì đàng nào cũng đã bị ... khích rồi, tôi đã đọc bài thơ tiếng Anh, cả bản dịch của Xuân Diệu, và sau đó bèn ... hì hục dịch bản của tôi. Nay đưa lên cho mọi người đọc và ... tha hồ bình phẩm nhé.
---
Bản dịch của (giả định là) Xuân Diệu:
Và cuối cùng, bản dịch của tôi (vẫn giữ tựa mà Xuân Diệu đã dịch):
Mail ấy được gửi sau khi tôi post bài thơ Ngữ pháp của tình yêu lên. Người bạn thơ của tôi gửi cho tôi một bài thơ khác cũng rất hay, thơ tiếng Anh của nhà thơ Mỹ thời chiến tranh VN. Tựa là "Speaking: The Hero".
Bài ấy, trong mail nói là chép từ trang blog của VTN, và có kèm bản dịch sang tiếng Việt mà VTN nói là do Xuân Diệu dịch. Chẳng biết đúng sai, nhưng ông bạn thơ của tôi có nói một câu, chẳng biết thật, đùa, hay là ... khích, rằng, tôi thử dịch lại, chắc sẽ "hay hơn ông kia" (tức là ông ... Xuân Diệu, cha mẹ ơi!).
Thôi thì đàng nào cũng đã bị ... khích rồi, tôi đã đọc bài thơ tiếng Anh, cả bản dịch của Xuân Diệu, và sau đó bèn ... hì hục dịch bản của tôi. Nay đưa lên cho mọi người đọc và ... tha hồ bình phẩm nhé.
---
Speaking: The Hero
I did not want to go.
They inducted me.
I did not want to die.
They called me yellow.
I tried to run away.
They courtmartialed me.
I did not shoot.
They said I had no guts.
I cried in pain.
They carried me to safety.
In safety I died.
They blew taps over me.
They crossed out my name
And buried me under a cross.
They made a speech in my home town.
I was unable to call them liars.
They said I gave my life.
I had struggled to keep it.
They said I set an example
I had tried to run.
They said they were proud of me.
I had been ashamed of them.
They said my mother should be proud.
My mother cried.
I wanted to live.
They called me a coward.
I died a coward.
They called me a hero.
FELIK POLLAK (1909-1987)
Bản dịch của (giả định là) Xuân Diệu:
Người anh hùng nói
Tôi đã không chịu đi
Chúng bắt tôi vào quân dịch
Tôi đã không muốn chết
Chúng gọi tôi là nhát hèn
Tôi đã tìm cách trốn
Chúng mang tôi ra tòa án binh
Tôi đã không nổ súng
Chúng bảo tôi là không có thớ
Chúng mở cuộc xuất kích
Một viên đạn ngấu nát ruột tôi
Tôi đau quá khóc lên
Chúng đưa tôi vào hầm trú ẩn
Trong hầm tôi đã chết
Chúng lặng lẽ chào tôi
Chúng đã gạch tên tôi
Và chôn tôi dưới một cây thánh giá
Chúng đọc điếu văn trong thành phố tôi sinh
Tôi không thể kêu lên là chúng nói dối
Chúng nói tôi đã cống hiến đời mình
Tôi thì cố mà giữ lại
Chúng nói chúng tự hào về tôi
Tôi thì đã xấu xa đi vì chúng
Tôi đã muốn sống còn
Chúng gọi tôi hèn nhát
Tôi đã chết hèn nhát
Chúng gọi tôi anh hùng
Và cuối cùng, bản dịch của tôi (vẫn giữ tựa mà Xuân Diệu đã dịch):
Tôi đã chẳng muốn đi
Bọn chúng xô đẩy mãi.
Tôi chẳng hề muốn chết
Bọn chúng bảo tôi xoàng.
Đào ngũ cũng thử rồi
Chúng lôi ra tòa án.
Tôi đã không dám bắn
Bọn chúng chửi tôi hèn.
Đau đớn quá tôi rên
Chúng đưa vào bệnh viện.
Trong bình yên tôi chết
Chúng ngả mũ kính chào.
Chúng gạch tréo tên tôi
Trên mộ tôi thập giá.
Chúng đọc bài diễn thuyết
Thật dối trá làm sao!
Chúng nói tôi hy sinh
Thật ra tôi muốn sống.
Chúng nêu tôi gương sáng
Thực sự tôi rất hèn.
Chúng bảo tôi vinh quang
Về chúng, tôi hổ thẹn.
Đáng tự hào, chúng nói.
Mẹ tôi chỉ nghẹn ngào.
Tôi muốn sống bình thường
Chúng bảo tôi hèn nhát.
Tôi chết, tên hèn nhát
Chúng ca ngợi vinh danh.
COMMENTS